Phân tích và so sánh người vợ nhặt trước và sau khi về làm vợ lớp 12 ngắn gọn đầy đủ

Hướng dẫn làm bài văn phân tích và so sánh người vợ nhặt trước và sau khi về làm vợ

Các bài viết liên quan tới chủ đề Người vợ nhặt đáng chú ý:

Kim Lân là nhà văn viết truyện ngắn tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam. Ông được mệnh danh là nhà văn của làng quê, “một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy”. Các tác phẩm ông để lại không nhiều nhưng lại là minh chứng rõ nhất cho triết lí “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Truyện ngắn “Vợ nhặt” được ông viết lại dựa trên cốt truyện của cuốn tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”. “Vợ nhặt” tái hiện một trong những thời kì đen tối nhất của lịch sử dân tộc, khi nạn đói lan tràn khắp nơi, đẩy cuộc sống của nhân dân vào bước đường khốn khó. Thế nhưng, cao hơn, điều Kim Lân muốn nói không phải cái chết mà là về sức sống tâm hồn con người, về khát vọng yêu đời, ham sống của họ. Để truyền tải tư tưởng đó, nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt- vừa là nạn nhân của đói nghèo, đồng thời cũng vượt lên hoàn cảnh để làm chủ số phận của mình.

vo nhat

BÀI VĂN PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH NGƯỜI VỢ NHẶT TRƯỚC VÀ SAU KHI VỀ LÀM VỢ LỚP 12 HAY NHẤT

Mỗi tác phẩm văn học giống như một “thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà nhà văn có để góp phần thay đổi thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được trong sạch và phong phú hơn”. Không chỉ mang đến một bài học về trông nhìn, thưởng thức, qua mỗi tác phẩm, nhà văn còn gửi gắm vào đó những bài học nhân sinh. Và với Vợ nhặt, bài học nhân sinh mà Kim Lân hướng đến chính là về sức sống tâm hồn con người, được thể hiện qua nhân vật người vợ nhặt.

Cuộc đời người vợ nhặt chỉ là con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, không gia đình, không quê quán. Thị tứ cố vô thân, tha hương cầu thực, nay đây mai đó. Từ đầu đến cuối, chị chỉ được gọi chung bằng đại từ phiếm định là “thị”- cái tên chung dành cho tất cả những người phụ nữ có cảnh ngộ và số phận đáng thương như chị. Không chỉ vậy, ngoại hình của người phụ nữ ấy cũng hiện lên với những nét thô kệch, xấu xí, bị nghèo đói làm trở nên tàn tạ: khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, hai hõm má trũng sâu, ngực gầy lép, quần áo rách như tổ đỉa.

Cái đói quay đói quắt ném người vợ nhặt vào một cuộc sống vất vưởng. Hiện thực khắc nghiệt biến cô thành một người phụ nữ chanh chua, cong cớn, chỏng lỏn. Lần đầu tiên gặp Tràng, chỉ nghe một lời nói đùa vu vơ, thị cũng chủ động ra đẩy xe bò và “liếc mắt cười tít” với Tràng. Lần thứ hai, táo bạo hơn, thị “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói” và lại còn “đứng cong cớn” trước mặt Tràng để đòi ăn. Khi được Tràng mời ăn, thị ăn liền một chặp 4 bát bánh đúc, ăn xong còn lấy đũa quệt ngang miệng khen ngon. Tất cả những hành động tưởng như mất hết danh dự, tự trọng ấy thực ra hoàn toàn xuất phát từ bản năng. Cái đói đã che lấp mất những phần tốt đẹp của con người, làm biến dạng cả nhân hình lẫn nhân tính.

Nếu như Nam Cao dùng cái đói như một thứ thuốc thử, một nghịch cảnh làm tha hóa con người thì Kim Lân lại tựa vào đó để làm nổi bật lên niềm khát sống của con người thời ấy. Bản năng ham sống đã xui khiến người vợ nhặt làm tất cả những gì có thể để thoát khỏi cái chết đang chầu chực từng giờ từng phút. Thị theo không Tràng về làm vợ như người chết đuối vớ được cọc trong giờ phút nguy nan. Từ hành động rất đỗi bất ngờ mà tất yếu ấy, ta nhận ra không phải bản năng đã hoàn toàn lấn át danh dự của người vợ nhặt. Cái dáng vẻ của thị khi đi cùng Tràng về nhà thể hiện sự bối rối, ngượng ngùng của một cô dâu mới: đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, “rón rén, e thẹn” , ngượng nghịu,“chânnọ bước díu cả vào chân kia”. Khi nhìn thấy ngôi nhà rách nát của Tràng, thị nén một tiếng thở dài cam chịu mà chấp nhận. Bước chân vào nhà, chị cũng rất ý tứ, chỉ “ngồi mớm” một bên mép giường. Và trong khi Tràng đã sốt ruột leo lên giường mong hưởng đêm tân hôn thì thị cứ “ngồi bần thần” bất động . Nhất là cái cung cách của thị vào sáng hôm sau đã thể hiện sự đảm đang của một người vợ, người con dâu. Chị dọn dẹp, quét tước nhà cửa cùng mẹ chồng. Khi nhận bát "chè khoán" từ tay bà cụ Tứ “mắt thị chợt tối lại” sau đó và “ăn một cách điềm nhiên”. Thái độ và cung cách ấy chỉ có ở người có ý thức sâu sắc về cảnh ngộ và thân phận của mình.

Có lẽ chính tình yêu thương, sự cưu mang của Tràng và bà cụ Tứ đã góp phần biến đổi người vợ nhặt từ một người phụ nữ đanh đá, cong cớn thành nàng dâu, đảm đang, tháo vát. Ta cũng hiểu rằng những chao chát, chỏng lọn chỉ là một thứ vũ khí du nhập từ bên ngoài để thị đối phó với cuộc sống vất vưởng. Chính Kim Lân bằng niềm yêu thương và thấu hiểu đã nhận ra những “hạt ngọc” ẩn giấu trong tâm hồn người vợ nhặt, thắp sáng lên một bài ca về sự sống.

Xem thêm các bài về Người vợ nhặt khác

Văn mẫu lớp 12