Dàn ý phân tích “Hạnh phúc của một tang gia” trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng chi tiết đầy đủ

Vũ Trọng Phụng là cây bút trào phúng bậc thầy của nền văn học Việt Nam. Các tác phẩm của ông là những tiếng cười mỉa mai vào lề thói lố bịch của xã hội nửa Tây nửa ta, Á Âu lẫn lộn. Đoạn trích "Hạnh phúc của một tang gia" trong tác phẩm "Số đỏ" tuy chỉ là một chương những cũng đủ sức nặng để cho ta thấy một xã hội thượng lưu lố lăng vô nhân tình. Sau đây, wikihoc xin giới thiệu cho các bạn dàn ý chi tiết nhất cho đề bài phân tích “Hạnh phúc của một tang gia” trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.

Các bài viết về chủ đề Hạnh phúc của một tang gia được quan tâm trên Wikihoc:

Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống. Đời sống hiện thực chính là nguồn thi liệu cho mọi áng văn thơ. Văn học Việt Nam đã từng có một trào lưu hiện thực mà cây bút nổi bật nhất chính là Vũ Trọng Phụng. Ngòi bút xắc sảo của nhà văn đã phơi trần hiện thực xã hội Việt Nam thời Pháp mang cái “văn minh” của chúng vào đất nước ta, vào xã hội thượng lưu, biến xã hội thành một sân khấu diễn lớn đầy lố bịch với những lề thói suy đồi. Đó cũng chính là “vở kịch” mà tiểu thuyết “Số đỏ” phản ánh và phơi bày. Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” là một chương trong tiểu thuyết mà chúng ta sẽ được tìm hiểu trong chương trình ngữ văn 11. Rất có thể, các bạn sẽ bắt gặp đề bài yêu cầu phân tích đoanạ trích. Để làm được bài viết này, các bạn cần nắm vững kiến thức cơ bản về mặt nội dung và nghệ thuật. Khi phân tích, nên chia theo phân cảnh trong truyện: cảnh đám tang và cảnh hạ huyệt, không nên phân tích tràn lan mà nên nắm bắt và phân tích kĩ một số chi tiết có sức nặng và có giá trị tạo hình cao. Dưới đây là dàn ý chi tiết nhất cho đề bài này. Chúc các bạn thành công !

DÀN Ý HÂN TÍCH “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” TRONG “SỐ ĐỎ” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG LỚP 11

I.Mở bài

  • Giới thiệu tác giả tác phẩm.
  • Giới thiệu đoạn trích.

Vũ Trọng Phụng là đại biểu xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực. Hiện thực mà ông phản ánh chính là một xã hội thực dân nửa phong kiến, nửa Tây nửa ta, Âu Á lẫn lộn mà ông gọi nó là xã hội “chó đểu”. “Số đỏ” là tác phẩm in đậm dấu ấn Vũ Trọng Phụng từ nội dung cho đến bút pháp thể hiện. Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” tuy chỉ là một chương nhưng cũng đủ cho ta thấy một xã hội lố bịch với sự bào mòn của giá trị nhân tình đạo lí và sự lên ngôi của danh của lợi.

II.Thân bài

1. Cảnh đám ma

a. Khung cảnh:

  • Bên ngoài: nhốn nháo, huyên náo
  • Là một đám ma to đủ các loại kèn trống, vòng hoa, 300 câu đối, vài ba trăm người đi đưa, có sư,…
  • Quy mô lớn, hình thức đa dạng, trang nghiêm là đám ma danh giá nhất Hà Thành
  • Điệp khúc “đám cứ đi” gợi hình ảnh đám tang chuyển động trang nghiêm.
  • Kèn tây kèn ta: thứ âm thanh nhốn nháo, lẫn lộn.

b. Con người

  • Ống kính nhà văn như lia toàn cảnh, nhưng có lúc lại đi vào từng con người ghi lại từng câu nói. Đối lập với vỏ ngoài trang trọng to tát của đám tang là cái thực chất bát ngáo bên trong.

* Cụ cố Hồng:

  • Là người háo danh: chỉ mong được mặc đồ xô gai, “lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa mếu” để thiên hạ chỉ trỏ, để người đời “khen ngợi” nhà ông có cái “đám ma như thế, một cái gậy như thế”.
  • Bất hiếu: đám ma bố mà không giỏ một giọt nước mắt, chỉ nghĩ đến chuyện thuốc phiện, chuyện của Tuyết và Xuân.

* Vợ chồng Văn Minh:

  • Hám của hám lợi: mừng vì di chúc được thực hiện, được tung ra những bộ trang phục theo mô-đen đám tang được tung ra.

* Tuyết:

  • Ăn mặc thời trang, khoe khoang theo mốt tân thời. Tuyết mặt bộ “Ngây thơ” để chứng minh với người đời là mình không hư hỏng nhưng lại “hử cả nách và nửa vú”.

Tuyết buồn nhưng không phải vì ông tổ qua đời mà vì không thấy bạn trai đâu cả.

* Cậu Tú Tân:

  • “Sướng điên lên” vì được dùng máy ảnh mới, được khoe tài chụp ảnh

* Phán mọc sừng:

  • Vui vì được chia một món tiền to.
  • Mở ra việc làm ăn với Xuân.

* Xuân tóc đỏ:

  • Uy tín ngày càng to.

* Cảnh sát Min-toa, Min-đơ:

  • Đang thất nghiệp mà lại được thuê giữ trật tự cho đám tang.

* Bạn bè của cụ cố Hồng:

  • Khoe huân chương, râu ria ‘hoặc dài hoặc ngắ”, “hoặc đen hoặc hùng”, “hoặc lún phún hoặc rầm rậm, oăn quăn”.
  • Các ông đều đứng sát linh cữu không phải vì thân thiết với người nằm trong quan tài mà chỉ vì để nhìn “làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết”.

* Đám trai thanh gái lịch:

  • Tụ tập nhau lại, bàn tán những chuyện nhảm nhí, đồi bại. Tưởng trang nghiêm nhưng thực chất là đang nói những chuyện không liên quan đến đám tang: bình phẩm, chê bài, cười tình.
  • Bản chất chung: vô liêm sỉ, lố bịch. Vì hám danh hám lợi mà chà đạp lên đạo lí nghĩa tình. Họ hoàn toàn dửng dưng với người đã chết. Đám tang cụ tổ mà không hề thấy một niềm tiếc thương đau buồn từ con cháu.
  • Đám tang mà như một đám rước lòe loẹt, om sòm, nhốn nháo, vô văn hóa, lố lăng, giả dối, như cuộc diễn trò lớn của xã hội thượng lưu trí thức đương thời.

2. Cảnh hạ huyệt

  • Như một làn kịch: Tú Tân là đạo diễn, Phan mọc sừng là một diễn viên đại tài. Ông đã diễn rất giỏi: bề ngoài thì bi thảm khóc mãi không thôi như một người có hiếu. Giữa lúc đám tang thiếu vắng tình người thì tiếng khóc của ông Phán thật quý hóa.
  • Âm thanh tiếng khóc được gặp lại hai lần: “Hứt…hứt…hứt”: tiếng khóc khô khốc giả tạo vô hồn không có nước mắt.
  • Ông Phán dúi vào tay Xuân một “tờ giấy bạc năm đồng gấp tư”: đây là một chi tiết đặc sắc, lật tẩy bản chất của nhân vật Phán mọc sừng: ông trả công cho Xuân tóc đỏ đã làm cho cụ cổ tổ chết: sự giả dối bịp bợm đạt đến độ vô liêm sỉ ghê tởm và tàn nhẫn.
  • Đây là đỉnh cao của tấn đại hài kịch: bên ngoài khóc thương bên trong thì ẩn chứa một âm mưu.
  • Hiểu vì sao Vũ Trọng Phụng đặt tên là “Hạnh phúc của một tang gia”: bộc lộ cái giả dối vô liêm sỉ của giới thượng lưu trong xã hội lúc bấy giờ, chà lên chà đạp lên nhân tình đạo lí.

3.Đánh giá

  • Nội dung: bộc lộ niềm căm phẫn không nguôi cùng thái độ phủ nhanaj triệt đểcxã hội thối nát lúc bấy giờ. Đằng sau tiếng cười là sự phẫn uất, xót xa của nhà văn trước một xã hội mà con người quay cuồng bởi dục vọng, bởi sự ích kỷ lòng háo danh hám lợi. Chính nó đã bóp chết những tình cảm thiêng liêng ruột thịt. Chỉ qua một chương sách mà đã hiểu vì sao Vũ Trọng Phụng gọi đó là xã hội “chó đểu”
  • Nghệ thuật trào phúng biến hóa với các thủ pháp nghệ thuật: đối lập, phóng đại, nói ngược nói mỉa.

III.Kết bài

  • Nêu cảm nhận của bản thân về tác phẩm.

Tiếng cười mà đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” đem lại vừa sâu cay lại cũng thật xót xa. Đó là cái mỉa mai vào xã hội thượng lưu trí thức Âu hóa kệch cỡm lố bịch nhưng cũng đầy đau đớn khi những giá trị sống, những nhân tình đạo lí bị chà đạp dưới lòng háo lợi háo danh.

QP-wikihoc.com

Xem thêm các bài về Hạnh phúc của một tang gia khác

Lớp dàn ý văn lớp 11