Phân tích hình tượng sông Đà trong đoạn văn sau: "Còn xa lắm mới đến thác dưới... hạ bộ người lái đò".

 Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ đa tài, đó là nhà văn của những cảm giác mạnh, nhà văn của núi cao, vực sâu, thác dữ, của những phong cảnh tuyệt mĩ, nhà văn có một phong cách nghệ thuật độc đáo và sâu sắc. Đọc tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà”, khám phá vẻ đẹp của hình tương sông Đà ta càng hiểu sâu sắc hơn vẻ đẹp của văn chương và tâm hồn người nghệ sĩ Nguyễn Tuân. Hình tượng sông Đà trở thành đề tài mà nhiều người đọc, nhiều nhà phê bình mê đắm hang say khám phá sau khi đọc tác phẩm của Nguyễn, bởi lí do có lẽ vì sông Đà mà Nguyễn tả đặc biệt quá, khác biệt và ấn tượng mới mẻ. Tôi và các bạn cùng nhau tìm hiểu hình tượng sông Đà ấy trong đoạn trích: "Còn xa lắm mới đến thác dưới... hạ bộ người lái đò" để hiểu lí do đó.

Các bài viết liên quan tới chủ đề hình tượng sông Đà đáng chú ý:

BÀI VĂN PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG CON SÔNG ĐÀ TRONG ĐOẠN VĂN: CÒN XA LẮM... HẠ BỘ NGƯỜI LÁI ĐÒ .

Pau – topxki từng chia sẻ “Nhà văn là người dẫn đường đi vào xứ sở của cái đẹp” và chính Nguyễn Tuân cũng chia sẻ: nhà văn là “người nghệ sĩ suốt đời đi tìm kiếm cái đẹp”. Vì thế trang văn của Nguyễn Tuân là trang văn của cuộc kiếm tìm cái đẹp. Ông thể hiện điều đó trên trang tùy bút “Người lái đò sông Đà” của mình. Hiện rõ nhất của hành trình ấy là cách tác giả miêu tả hình tượng sông Đà, đặc biệt trong đoạn văn “Còn xa lắm mới đến thác dưới... hạ bộ người lái đò", cái đẹp mà tác giả kiếm tìm được hiện ra rõ nét.

Đoạn trích đặc tả tính cách hung bạo và sự hiểm độc của sông Đà qua thác nước và thạch trận. Trước hết, tác giả sử dụng phép nhân hóa để miêu tả thác nước. Tác giả miêu tả âm thanh tiếng thác bằng ngôn từ chỉ trạng thái con người : “oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Tác giả đặc tả sự tăng dần sắc thái cảm xúc và âm lượng từ oán trách, van xin, đến chế nhạo khiến sông Đà hiện ra như sinh thể sống vừa gầm gào, vừa đe dọa uy hiếp con người. Thủ pháp so sánh “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” thể hiện cái “ngông” đầy tài hoa của Nguyễn Tuân khi dùng lửa tả nước, rừng tả sông. Liên tưởng táo bạo ấy qua quyền năng của ngôn từ khiến Sông Đà hiện lên thật hung tợn, đáng sợ ngay từ phía xa.

Bút lực của Nguyễn Tuân dồn toàn lực vào đoạn văn miêu tả thạch trận sông Đà. Nguyễn Tuân trình bày một thứ trận chiến bằng chữ viết như kiểu Bát trận đồ của Khổng Minh theo binh pháp Tôn Ngô mà Khổng Minh sáng tạo lại. Cố nhiên có pha chút hiện đại. Không có Long Xà trận nhưng có Thạch Trận. Thạch Trận cũng đủ cửa tử, cửa sinh. Không đủ Bát Trận nhưng có trận trước trận sau, trận trên trận dưới, nhiều lớp nhiều tuyến, có tiên phong có dự bị... Không có tướng trấn cửa, Nhưng Nguy Diên, Mã Siêu, Quang Hưng, Trương Bào nhưng có những tướng đá và quân nước.

Ở trùng vi thạch trận thứ nhất– thác đá sông Đà đã chuẩn bị dàn trận địa sẵn, đó là trận địa với bốn cửa tử, một cửa sinh. Ở đây nước phối hợp với đá  reo hò làm thanh viện;  những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt;  một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Bằng các động từ, tính từ “reo hò, bệ vệ, oai phong lẫm liệt, hất hàm hỏi, thách thức”… người đọc cảm nhận được không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp, kịch tính.

Ở trùng vi thạch trận thứ hai, sông Đà tăng cường một “tập đoàn cửa tử” và cửa sinh bố trí lệch qua bờ hữu ngạn. So với trùng vi một thì trùng vi này khó khăn hơn. Chúng xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử. Đá nước sóng tăng thêm nhiều cửa tử “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh”, “bốn năm thủy quân không ngớt khiêukhích”…Những động từ mạnh vẫn tiếp tục tuôn chảy không ngớt trên những trang văn cộng hưởng với phép tu từ so sánh nhân hóa rất độc đáo giúp nhà văn biến sóng nước thành hùm thiêng, sông nước tăng thêm sức mạnh đến đỉnh điểm. Ở trùng vi này, sông Đà dữ tợn, hung bạo đòi ăn chết với ông lái đò, nhưng sự tài hoa, dũng  cảm của ông đò, chiến thắng thuộc về ông lái.

Và trùng vi thứ ba, trùng vi cuối cùng Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay giữa. ở trùng vi này, Thạch trận ít cửa tử hơn nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ. Cách tác giả miêu tả hình ảnh con thuyền vượt thác đầy gian nan  “Vút, vút…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”, khéo léo né tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng cổng “cánh mở, cánh khép” cũng đủ để thấy sự hung dữ, nguy hiểm của sông Đà.

Con sông Đà hung bạo, tàn ác không khác gì "kẻ thù số một của con người". Nó mang tính cách, linh hồn của một con người, mạnh mẽ, hung tợn và đang sợ. Nhưng cũng chính từ hình ảnh con sông ấy, hình ảnh người nghệ sĩ được nâng lên thành tầm cao mới với tài năng, uyên bác, tài hoa của mình.

Xem thêm các bài về hình tượng sông Đà khác

Văn mẫu lớp 12