Bài viết số 1 lớp 12 đề 3: Nghị luận về mục đích học tập UNESCO: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình

Hướng dẫn làm bài viết số 1 đề 3: Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình

Các bài viết về chủ đề Mục đích học tập của UNESCO được quan tâm trên Wikihoc:

Hành trình để đạt được ước mơ, khát vọng của con người luôn gắn liền với học tập. Ai cũng cần trải qua việc học, nhưng không phải ai cũng xác định được phương hướng và mục đích học tập đúng đắn. Vì lẽ đó, tổ chức UNESCO từng đề xướng châm ngôn rằng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Qua châm ngôn của UNESCO, có lẽ mỗi chúng ta sẽ phần nào hiểu được ý nghĩa của việc học, đồng thời có cho mình những định hướng đúng đắn trên con đường học tập. Câu nói ấy không chỉ có giá trị trong thời xưa mà còn cả thời nay, trở thành kim chỉ nam cho mọi người để có được thành công trong học vấn. Qua bài viết số 1 đề 3, chúng ta hãy cũng bình luận về câu nói của UNESCO: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

muc dic hoc tap unessco

BÀI VIẾT SỐ 1 ĐỀ 3: HÃY PHÁT BIỂU Ý KIẾN CỦA MÌNH VỀ MỤC ĐÍCH HỌC TẬP DO UNESCO ĐỀ XƯỚNG: HỌC ĐỂ BIẾT, HỌC ĐỂ LÀM, HỌC ĐỂ CHUNG SỐNG, HỌC ĐỂ TỰ KHẲNG ĐỊNH MÌNH” 1 

Lê- nin từng nói: “Học, học nữa, học mãi”. Cuộc đời của mỗi con người luôn gắn liền với việc học. Học tập đã trở thành nhu cầu và là điều tất yếu để mỗi chúng ta khẳng định bản thân, đồng thời đạt được những thành công trong cuộc sống. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, quan niệm về học tập của con người cũng dần được hoàn thiện để khái quát được bản chất của việc học. Trong thời đại ngày nay, chúng ta hẳn quen thuộc với đề xướng của UNESCO: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Mục đích của học tập được UNESCO tổng kết trong bốn nội dung rõ ràng, cụ thể. Đầu tiên, chúng ta cần “học để biết”. Thế giới xung quanh chứa đựng vô vàn những điều hấp dẫn, bí ẩn mà ta không thể biết. Để hiểu về mọi thứ, cũng như hiểu về chính con người, chúng ta không có con đường nào khác ngoài học tập. “Biết” là để hiểu thêm về sự rộng lớn của thế giới, đồng thời cũng để thấy ta nhỏ bé làm sao giữa hằng hà sa số những điều bí ẩn. Socrates- triết gia nổi tiếng hy lạp từng nói: “Tri thức thực sự nằm ở việc hiểu rằng mình không biết gì hết”. Không khó hiểu vì sao những người càng hiểu sâu biết rộng lại càng có một thái độ khiêm tốn. Vì lẽ đó, “học để biết” không chỉ là đắp bồi bản thân mà còn giúp chúng ta có một thái độ đúng đắn trước cuộc đời.

Thế nhưng, “học để biết” là chưa đủ.Từ việc hiểu, chúng ta còn cần vận dụng nó vào cuộc sống hàng ngày. Dù trong bụng có ba vạn quyển sách mà không biết ứng dụng nó thì những kiến thức ấy cũng để không, dần dà trở nên mốc meo, méo mó. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lí luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa”. Thực tiễn chính là môi trường để ta kiểm chứng những gì mình học được, bởi lẽ “lí thuyết thì màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi”. “Biết” và “làm” luôn là hai mặt biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau của việc học. “Làm” hỗ trợ những cái ta đã “biết”, hoàn thiện nó, giúp nó trở nên đầy đủ, phong phú hơn. Trong thời đại ngày nay, “học để làm” còn như một phẩm chất cần thiết của con người thời đại khi cuộc sống luôn thay đổi từng ngày, từng giờ. Áp dụng những gì học được, chúng ta đang góp phần làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, biến mình trở thành một phần của thế giới. Hơn thế, nó còn chứng tỏ ta là người chủ động, sáng tạo trong việc học chứ không chỉ biết có một bồ đầy chữ.

Yêu cầu thứ ba của UNESCO là: học để chung sống. Nếu như xa xưa, con người chỉ biết đến gia đình, bộ lạc thì hiện nay, trong thời đại thế giới phẳng, chúng ta có thể kết nối với cả thế giới. “Học để chung sống” trở thành một nhu cầu cấp thiết để chúng ta có thể hòa nhập và giúp đỡ lẫn nhau. Nó giúp ta thích nghi được trong mọi môi trường, hoàn cảnh và những mối quan hệ khác nhau. “Chung sống” là hệ quả tất yếu của “biết” và “làm”. Và để có thể chung sống, con người cần hiểu về sự khác nhau trong lối sống, lối nghĩ, đồng thời bắt kịp xu thế của thời đại.

Cuối cùng, mục đích cao nhất của việc học có lẽ là để “tự khẳng định mình”. Nhờ học tập, con người dần hoàn thiện nhân cách, đạo đức và trí tuệ, từ đó khẳng định được giá trị của bản thân qua những gì mình tích lũy được, qua khả năng lao động và sáng tạo. Chúng ta cũng không mong rằng rồi một ngày kia tên tuổi của ta sẽ chìm đi trong quên nhớ đời người. “Tự khẳng định mình” chính là cách để sống một cuộc đời có ý nghĩa, thể hiện ý chí chống lại khả năng bào mòn của thời gian.

Mục đích học tập đúng đắn, sáng tạo của UNESCO hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cuộc sống và con người trong thời đại nay. Hiểu được điều đó, mỗi người hãy tự điều chỉnh phương hướng học tập của bản thân, thay đổi những tư duy lỗi thời để có thể làm chủ cuộc sống của mình.

BÀI VIẾT SỐ 1 ĐỀ 3: HÃY PHÁT BIỂU Ý KIẾN CỦA MÌNH VỀ MỤC ĐÍCH HỌC TẬP DO UNESCO ĐỀ XƯỚNG: HỌC ĐỂ BIẾT, HỌC ĐỂ LÀM, HỌC ĐỂ CHUNG SỐNG, HỌC ĐỂ TỰ KHẲNG ĐỊNH MÌNH” 2

Đã bao giờ bạn tự hỏi chính mình “Học để làm gì?”, “Vì sao phải học?”. Học không chỉ là nhiệm vụ của bản thân mà học trở thành nhu cầu thiết yếu và cao hơn cả còn là khát khao và ước mơ của nhiều người. Bởi có lẽ giống như UNESCO nói về mục đích học “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.”

UNESCO đã đề ra bốn mục đích quan trọng của việc học. Học để biết – nhận thức, hiểu sâu sắc vấn đề; học để làm – hành động đúng đắn; học để chung sống – nâng cao giá trị xã hội, hòa mình với cộng đồng; học để tự khẳng định chính mình – khẳng định tầm giá trị của bản thân. Ý kiến của UNESCO hoàn toàn đúng đắn không chỉ với lứa tuổi học sinh mà với mọi người trong xã hội

Trước hết, vì sao học để biết? Thế giới đa màu, đa diện, liệu chúng ta có hiểu hết về thế giới, liệu chúng ta đã nhìn hết thế giới ra sao? Chúng ta liệu có biết hết về mọi bộ tộc trên thế giới? Hay gần hơn, liệu chúng ta đã biết hết mọi đặc điểm của quê hương chúng ta, đất nước chúng ta? Chúng ta phải học để biết, để hiểu sâu sắc mọi vấn đề. Nếu không có tri thức, liệu chúng ta có nhìn nhận vấn đề từ mọi phía hay chỉ phiếm diện một chiều. Học để biết là một quá trình mà cả đời có khi chúng ta chưa hoàn thành quá trình ấy.

Vì sao học để làm? Nếu không học,bạn có biết làm hết mọi thứ? Người nghệ nhân liệu có làm ra những chiếc cốc thủy tinh, những chiếc bình nghệ thuật nếu họ không học? Bạn có biết viết nếu không được học? Học để hành động. Phải học bạn mới biết làm, học bạn mới có thể hành động theo lí trí đúng đắn để tình cảm không chi phối. Hành động đúng cần một trí não bản lĩnh. Muốn vậy thì điều đương nhiên là phải học, phải rèn luyện.

Vì sao học để chung sống? Bạn sẽ ra sao nếu như không học và lạc long ở một miền đất mới, nơi những con người xa lạ? Học để tiếp thu, để thay đổi bản thân phù hợp để ứng xử trong mọi trường hợp dù khó khăn như thế nào chăng nữa. Học để thích ứng được với mọi hoàn cảnh. Học để mọi người thấy bạn phù hợp với họ, để họ coi bạn là người bạn đáng quý. Thế giới này nên tồn tại nhưng con người biết chung sống hoà thuận gân gũi gắn bó với nhau để tạo thành một cộng đồng một xã hội bền . Khi con người biết chung sống thì giữa đát nước trên thế giới sẽ không có mâu thuẫn, chiến tranh, trái đất sẽ chỉ có hoà bính và hạnh phúc

Và vì sao học để tự khẳng định mình? Khẳng định bản thân là điều ai cũng ước mơ tới. Người có giá trị cao là người có tầm hiểu biết, nhìn nhận vấn đề sâu rộng, Và muốn vậy, họ phải học. Học mới có tri thức để mở rộng hiểu biết. Học mới có quá trình rèn luyện để nhìn nhận xung quanh, thay đổi chính mình. Người có học là người có tầm nhìn, là người có giá trịn bản thân rất cao. Cái tôi của bản thân không thể là cái tôi có tầm nếu kẻ đó không có chữ gì, không hiểu biết gì. Người có tầm là người có học.

Học là cả quá trình diễn ra liên tiếp không ngừng lại. Vì thế muốn biết, muốn làm, muốn chung sống, muốn tự khẳng định bản thân thì hãy có ý chí, nghị lực để học Vì học là mãi mãi, là cả đời.

Xem thêm các bài về Mục đích học tập của UNESCO khác

Văn mẫu lớp 12