Dàn ý Phân tích đoạn trích "Nỗi thương mình" lớp 10 đầy đủ chi tiết hay nhất

Chỉ với một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Du đã khiến cho người đọc không thể nén được cảm xúc khi người con gái tài sắc vẹn toàn lại rơi vào bế tắc và khốn cùng như vậy. Và sau đây là dàn ý phân tích đoạn trích "Nỗi thương mình" đầy đủ chi tiết các bạn có thể tham khảo.

Các bài viết về chủ đề Nỗi thương mình được quan tâm trên Wikihoc:

Đào Nguyên Phổ đã từng nhận xét: "Tố Như như có con mắt nhìn xuyên sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời. Con mắt và tấm lòng ấy đã khiến Nguyễn Du am hiểu bao mối bânh tâm của cuộc nhân sinh, đồng cảm được sâu sắc với mọi nông nỗi của kiếp người. Thúy Kiều có lẽ là nhân vật nà Nguyễn Du đã dành nhiều huyết lệ nhất. Có thể nói Nguyễn Du thấu tỏ, am hiểu và đồng cảm với nàng ngay cả những lúc đen tối nhất của cuộc đời người con gái tài hoa bạc mệnh này. Đoạn trích "Nỗi thương mình" là một minh chứng cho điều đó. Và trong chương trình ngữ văn 10, các bạn sẽ bắt gặp đề bài lập dàn ý cảm nhận đoạn trích "Nỗi thương mình". Ở đề bài này trước hết các bạn cần đảm bảo đủ bố cục ba phần: mở bài, thân bài và kết bài. Đặc biệt phần thân bài, các bạn cần tập trung triển khai các ý phân tích theo các đoạn qua đó làm nổi bật cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ. Và sau đây là một dàn ý các bạn có thể tham khảo. Chúc các bạn thành công!

DÀN Ý CẢM NHẬN ĐOẠN TRÍCH "NỖI THƯƠNG MÌNH" ĐẦY ĐỦ CHI TIẾT

1. Mở bài

  • Dẫn dắt và giới thiệu đoạn trích

Khi Mã Giám Sinh đưa Kiều đến nhà chứa, không chấp nhận cảnh sống ô nhục ở lầu xanh. Trong sự đau đớn và tuyệt vọng, Kiều rơi vào cái bẫy của Tú Bà. Nàng buộc phải ra tiếp khách làng chơi. Đoạn trích "Nỗi thương mình" miêu tả nỗi niềm tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu xanh lần thứ nhất với giọng điệu xót xa, đau đớn.

2. Thân bài

a) Đoạn 1: giới thiệu tình cảnh của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh

  • Bốn câu thơ đầu, cuộc sống ở lầu xanh của Kiều được miêu tả bằng bút pháp ước lệ, điển tích điển cố: "bướm lả ong lơi"- sự xuồng xã, đùa cợt của khách làng chơi, "lá gió cành chim"- hình ảnh người kĩ nữ mời chào khách làng chơi, Tống Ngọc, Trường Khanh những điển tích chỉ khách đến lầu xanh với đủ mọi loại người.
  • Việc sử dụng từ ngữ hết sức sáng tạo, đảo trật tự từ, đan chéo, tạo lối đối xứng: ong bướm lả lơi thành bướm lả ong lơi, cành lá gió chim thành lá gió cành chim.
  • Âm điệu lời thơ như ngân luyến như dằn xuống và ẩn sau đó là những tâm trạng ngao ngán, ê chề của Thúy Kiều về thân phận của mình.
  • Sử dụng những từ ngữ chỉ không gian, thời gian và những tính từ chỉ mức độ tuyệt đối " biết bao, đầy tháng, suốt đêm, sớm, tối" lại kết hợp với biện pháp đối ở câu tám chữ- tiểu đối mở ra một cuộc sống triền miên, chìm đắm ngày qua đêm, tràn ngập không gian, kéo dài thời gia và ẩn sau đó là tâm trạng chua xót của Kiều về thân  phận của chính mình.

b) Đoạn 2: tâm trạng của Kiều trước cảnh sống như thế

  • Nơi lầu xanh, người kĩ nữ lấy đêm làm ngày, triền miên trong cơn say, khi tỉnh rượu cũng là lúc đêm tàn và lúc đó con người mới tỉnh táo hơn. Bấy giờ nàng mới "giật mình" bởi cảnh sống xô bồ kia không phải là mình. Điệp từ "mình" tạo cho câu thơ nhịp ngắt 2/4/2 khiến cho lời thơ đay đi đay lại như nỗi vần vật, như trong đêm khuya tỉnh dậy nhìn bốn bể chỉ trơ trọi một mình nên càng tấm thía nỗi cô đơn.
  • Sau đó là những câu thơ  miêu tả thực tại phũ phàng, nhơ nhớt. Và tới đây Kiều hoàn toàn tỉnh táo để nhận thức rõ về thực tại ấy. Những câu hỏi tu từ được sử dụng liên tiếp gợi sắc thái cảm thán. Mỗi câu hỏi tu từ lại được kèm theo từ sao " khi sao, giờ sao, mặt sao" như một tiếng nói dằn vặt. Nghệ thuật đối lập quá khứ với thực tại, giữa cảnh sống trong quá khứ và cảnh sống trong hiện tại. Quá khứ tươi đẹp, e ấp đối lập hoàn toàn với thực tại. Quá khứ êm đẹp ấy chỉ xuất hiện trong một câu thơ còn thực tại lại xuất hiện trong ba câu liên tiếp. Kiều ý thức được thực tại đen tối đã chùm phủ, đè nặng lên quá khứ. Hình ảnh so sánh " tan tác như hoa giữa đường" rồi việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo "bướm chán ong chường" "dày gió dạn sương" cho thấy thân phận nàng như cánh hoa bị giày xéo, tấm thân nhơ nhớp, khuôn mặt bẽ bàng.
  • Nhưng thực chất đó lại là những lời thương thân trách phận, thế giới nội tâm của Kiều được miêu tả sống động. Có được những điều mới mẻ đó cũng là bởi trong thế kỉ XVIII khi ý thức cá nhân trỗi dậy như trong chùm thơ "tự tình" của Xuân Hương hay trong ca dao than thân. Nguyễn Du viết những câu thơ này là dựa vào nền tảng vững chắc xuất phát từ giá trị nhân đạo trong văn học.

c) Đoạn 3: thái độ, ý thức bảo vệ nhân phẩm của Kiều

  • Sống ở lầu xanh có đủ phong hoa tuyết nguyệt tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa, có đủ các thứ vui tao nhã cầm, kì, thi, họa nhưng thái độ của Kiều là sự vô cảm, thờ ơ, hờ hững.
  • Nỗi buồn đau nội tâm đã lan tỏa ra cảnh vật khiến Nguyễn Du viết lên hai câu thơ khái quát quy luật:

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"

  • Nàng luôn tách mình ra khỏi cuộc sống chốn lầu xanh. Đó là sự phản kháng, chống đối vì nàng muốn đòi quyền sống, sống trong sạch - khát khao hướng thiện khi đã ý thức được giá trị nhân phẩm của Kiều.

3. Kết bài

  • Nêu cảm nghĩ của bản thân

Có lẽ sẽ không quá lời khi nói rằng Nguyễn Du đã viết những dòng thơ này không chỉ bằng ngòi bút của một nghệ sĩ tài hoa, một nhà nhân đạo lớn mà còn bằng sự quan sát tinh anh của một nhà tâm lí học bậc thầy.

Vânwikihoc.com

Xem thêm các bài về Nỗi thương mình khác

Lập dàn ý văn lớp 10