Soạn bài Tự tình (bài II) lớp 11 hay nhất đầy đủ

Hướng dẫn Soạn bài Tự tình lớp 11 đầy đủ hay nhất do wikihoc biên soạn để các bạn học sinh tham khảo

Các bài soạn trước đó:

Hình ảnh người phụ nữ trong thơ trung đại luôn là một trong những đề tài muôn thuở cho những thi nhân nghệ sĩ từ trước đến nay. Bởi chính cuộc sống khổ hạnh, chính những lễ giáo phong kiến nặng nề tam tòng tứ đức áp đặt lên họ mà có rất nhiều những tiếng nói than thở xuất hiện trong các bài thơ từ xa xưa đến nay. Đặc biệt về tình cảm dường như họ không có mưu cầu hạnh phúc cá nhân, không được  tự do tìm đến tình yêu đích thực đời mình mà luôn phải bị áp đặt…. Bởi vậy tình cảm và hình ảnh của người phụ nữ trong văn học trung đại cũng thật đặc biệt. Cho đến khi ta bắt gặp bài Tự tình của Hồ Xuân Hương ta lại càng thấy thêm thấm thía. Dưới đây mình sẽ hướng dẫn các bạn soạn bài Tự tình của Hồ Xuân Hương.

SOẠN BÀI TỰ TÌNH (BÀI II)  LỚP 11

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Hồ Xuân Hương (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở làn Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhưng chủ yếu sống ở kinh thành Thăng Long.

Bà đi nhiều nơi và thân thiết với nhiều danh sĩ, có người nổi tiếng như Nguyễn Du. Cuộc đời, tình duyên của Hồ Xuân Hương nhiều éo le, ngang trái.

2. Tác phẩm

Tự tình (bài II) nằm trong chùm thơ Tự tình gồm ba bài của Hồ Xuân Hương

II. Hướng dẫn soạn bài Tự tình (bài II) đọc hiểu chi tiết.

Câu 1 trang 19 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Hai câu đầu khái quát không gian, thời gian làm nền cho tâm trạng

  • Thời gian: đêm khuya
  • Không gian: trống trải, mênh mông, văng vẳng tiếng trống cầm canh
  • Thời gian được thể hiện qua câu với âm thanh “văng vẳng” trống canh dồn. Âm thanh “văng vẳng” không chỉ đơn thuần là sự cảm nhận âm thanh bằng thính giác mà còn là sự cảm nhận về sự trôi của thời gian – thời gia vô thủy, vô chung nhưng thời gian còn là sự chứa đựng phá hủy.
  • Từ “trơ” được đặt đầu câu với nghệ thuật đảo ngữ nói được bản lĩnh nhưng lại cũng thể hiện nỗi đau của nhà thơ. “Trơ” là tủi hổ, bẽ bang. Nhưng “trơ” với tác giả còn là sự thách thức.
  • Hồng nhan: cách nói về người nhưng đi liền với “cái” => sự rẻ rung, mỉa mai
  • Chén rượu hương đưa say lại tỉnh: câu thơ gợi lên cái vòng luẩn quẩn, như là sự cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của tạo hóa: hương rượu và hương tình đi qua chỉ để lại vị đắng chat, khổ đau của tác giả.
  • Hình ảnh “vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” là hình tượng chứa hai lần bi kịch: trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn “khuyết chưa tròn”. Đó là sự tương đồng với thân phận của người phụ nữ. Câu thơ tả ngoại cảnh nhưng chứa đựng nội tâm của tác giả, tạo nên sự thông nhất giữa trăng và người

Câu 2 trang 19 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Hai câu 5 – 6 mang đậm cá tình Hồ Xuân Hương. Hai hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội thể hiện sự bức bối trong tâm trạng và khao khát phá vỡ những lối mòn quen thuộc của cuộc sống để được tự do. Rêu là một dinh vật nhỏ yếu, hèn mọn nhưng cũng không chịu khuất phục, mềm yếu; nó phải xiên ngang mặt đất. Đá vốn chắc nhưng giờ cũng nhọn hơn để tâm toạc chân mây.

Lối đảo ngữ cùng với những động từ mạnh “xiên, đâm” kết hợp các bổ ngữ như “ngang, toạc” thể hiện rõ nỗi khát khao hạnh phúc, giải thoát khỏi cô đơn của nhà thơ.

Câu 3 trang 19 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Hai câu kết bỗng nhiên chùng xuống. Dường như mọi cố gắng đều vô ích.  Sự thật vẫn là sự thật. Tâm trạng được bộc lộ trực tiếp. Thời gian vô tình cứ trôi chảy, xuân của tự nhiên qua đi rồi trở lại những xuân của người thì không. Từ “lại” thứ nhất có nghĩa là thêm một lần nữa, từ “lại” thứ hai là sự trở lại. vì vậy hai từ “lại”giống nhau về âm nhưng khác nhau về cấp độ nghĩa.

Câu thơ cuối được phảng phất sự cay đắng chau xót của người phụ nữ bất hạnh, có những cuộc tình duyên không trọn vẹn đầy đủ. Tác gỉa sử dụng nghệ thuật tăng tiến. Đây không phải là khối tình mà là mảnh tình, tức là hết sức bé nhỏ. Mảnh tình bé nhỏ lại đem “san sẻ” chỉ còn “tí con con”.

Câu 4 trang 19 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Trong “tự tình” nhà thơ dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh, đó là các từ thuân việt giàu hình ảnh, màu sắc với sắc thái đặc tả mạnh, các tính từ, các từ ngữ này có khả năng biểu lộ chính xác và tinh tế trạng thái tâm trạng của nahan vật trữ tình. Đó là sự cô đơn, là khát khao được sống, hạnh phúc. Tâm trạng uất ức bị dồn nén dường như được thoát ra, trải ra cùng những hình ảnh, những từ ngữ táo bạo ấy.

III. Luyện tập bài Tự tình (bài II)

Câu 1 trang 19 SGK ngữ văn 11 tập 1:

Sự giống nhau và khác nhau giữa các bài thơ “tự tình I” và “tự tình II” của Hồ Xuân Hương

Giống nhau:

  • Cùng sử dụng thơ Nôm đường luật
  • Đều mượn cảm thức về thời gian để thể hiện tâm trạng. Điều đó được thể hiện qua kết cấu vòng tròn của hai bài thơ: mở đầu bằng thời gian và kết thúc cũng là thời gian
  • Đều được sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm: vẳng vẳng, trở, cái hồng nhanh, nga, tí con con, oán hận, rền rĩ, mõm mòn…

Khác nhau:

  • Cảm xúc trong “tự tình I” là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu, nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, đồng thời là sự vươn lên của chính bản thân, thách đố duyên phận
  • Tự tình II cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng, cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch. Chính vì thế bị kịch như được nhân lên , phẫn uất hơn. Sự khác nhau đó chính là do cảm xúc chủ đạo trong từng bài thơ.

Các bài soạn tiếp theo:

Xem thêm các bài về Tự tình (bài II) khác

Soạn văn lớp 11