Dàn ý phân tích khổ cuối bài thơ "Tràng giang" chi tiết đầy đủ

Huy Cận là một trong những tác giả xuất sắc nhất trong phong trào thơ mới. Thơ ông rất giàu chất suy tưởng, triết lí, luôn thể hiện sự giao cảm giữa con người và vũ trụ. Tràng giang là một trong những bài thơ tiêu biểu của tác giả, thể hiện đầy đủ tư tưởng và phong cách thơ của nhà thơ. Sau đây là dàn ý phân tích khổ cuối bài thơ tràng giang đầy đủ chi tiết các bạn có thể tham khảo.

Các bài viết về chủ đề Tràng giang được quan tâm trên Wikihoc:

Đời người không khỏi có những lúc bước chân lang thang đưa ta đến những sông hồ, bờ bã, biển cồn, núi cao, đèo dốc...- những không gian trời nươca mênh mông. Điều ấy cũng đồng nghĩa với việc ta sẽ phải đối diện với cái vô cùng, vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung của thời gian. Khi ấy, ngay cả những người vô tâm nhất cũng không tránh khỏi cảm giác cô đơn. Ta bỗng thấy chơi vơi giữa thế gian này. Ấy là lúc ta cần tìm đến thơ Huy Cân, lắng nghe và cảm nhận từng câu chữ của "Tràng Giang". Bài thơ thể hiện nỗi sầu của một "cái tôi" trước thiên nhiên mênh mông hiu quạnh, trong đó thấm đượm tấm lòng đối vố quê hương đất nước của thi sĩ. Đúng như Xuân Diệu từng nhận xét: "Tràng Giang" là một bài thơ "ca hát non sông đất nước; do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơ Tổ quốc". Khổ thơ cuối cùng có lẽ là tiêu biểu cho chủ đề ấy. Và trong chương trình ngữ văn lớp 11, chúng ta bắt gặp đề bài phân tích khổ cuối bài "Tràng Giang"- Huy Cận. Ở đề bài này trước hết các bạn cần đảm bảo đủ bố cục ba phần: mở bài, thân bài và kết bài. Đặc biệt ở phần thân bài, các bạn cần tập trung phân tích bưca tranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng thông qua ngôn ngữ, hình ảnh, cách ngắt nhịp... Và sau đây là một dàn ý các bạn có thể tham khảo. Chúc các bạn thành công!

DÀN Ý PHÂN TÍCH KHỔ CUỐI BÀI THƠ TRÀNG- HUY CẬN LỚP 11 ĐẦY ĐỦ CHI TIẾT

1. Mở bài

  • "Tràng giang" không chỉ là một bài thơ hay của Huy Cận mà còn là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới 1932- 1945. Bài thơ không chỉ miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước mà còn thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình. Và có lẽ khổ thơ cuối cùng khép lại thi phẩm, gieo vào lòng người đọc nhiều ấn tượng:

"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

...

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"

2. Thân bài

a) Bức tranh thiên nhiên

  • Nhà thơ miêu tả một hoàng hôn tráng lệ với lớp lớp mây trắng chồng xếp lên nhau như những núi bạc, cánh chim nhỉ bé trao nghiêng trong áng chiều và phía dưới là sóng nước Tràng Giang vẫn nhịp nhàng vỗ nhịp.

b) Bức tranh tâm trạng

  • Hình ảnh vận động hữu hình: "chim nghiêng cánh" để diễn tả một vận động vô hình "bóng chiều sa". Dường như cánh chim đang trĩu xuống dưới sức nặng của bóng chiều, hoàng hôn mặt trời như sa xuống mặt đất. Nếu như trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, Lí Bạch... thì cánh chim là biểu hiện báo hoàng hôn trong thơ Huy Cận là sự hiện diện vủa cảm giác cô đơn, lạc lõng của cái tôi lãng mạn trước cuộc đời.
  • Thi nhân phủ định thi liệu cổ điển để khẳng định ý tình thời đại trong hai câu kết:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"

  • Hai câu thơ lấy ý từ hai câu thơ của Thôi Hiệu trong "Hoàng Hạc Lâu":
  • "Nhật mộ hương quan hà xứ thị
  • Yên ba giang thươngh sử nhân sầu"
  • (Quê hương khuất bóng hoàng hôn
  • Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
  • Thôi Hiệu xưa đứng trên lầu Hoàng Hạc nhìn khói sóng dâng lên nỗi nhớ quá khứ. Miền quê ấy có thể là nơi chôn rau cắt rốn, nơi con người sinh ra lớn lên nhưng cũng có thể hiểu là miền đất nơi con người gắn bó vĩnh viễn sau hoàng hôn của cuộc đời. Nỗi sầu ấy mang đậm màu sắc cổ điển, gợi mở nỗi buồn về sự hư vô của kiếp người.
  • Còn Huy Cận, đứng ngay trên quê hương mình, dòng sông không có khói mà vẫn dâng lên  nỗi nhớ nhà. Nhà ở đây có thể hiểu rộng là nước nhà, chiếu lên hai chữ "lòng quê", lời thơ Huy Cận bộc lộ kín đáo tình cảm với đất nước, quê hương. Đặt bài thơ trong bối cảnh xã hội bấy giờ, có thể hiểu là nỗi buồn đất nước mất chủ quyền, nỗi buồn của cả một thế hệ mang tầm thời đại mà ta còn bắt gặp trong thơ Chế Lan Viên, văn Nguyễn Tuân...
  • Từ láy "dợn dợn" đã đồng nhất nhịp điệu của sóng nước vố nhịp điệu của cảm xúc. Nó vừa gợi ra cái dập dềnh của sóng nước vừa gợi cảm giác hoang lạnh trong lòng nhân vật trữ tình. Từ láy "dợn dợn" còn diễn tả một cách chân thực, lãng mạn cảm giác hoang mang của cái tôi không tìm thấy điểm tựa và hướng đi cho cuộc đời mình.
  • Bức tranh tâm trạng của chủ thể trữ tình mang màu sắc cổ điển khi nhân vật trữ tình cảm thấy cái nhỏ bé, hữu hạn của đời người với cái bao la, vô hạn của không gian. Đó là nét tâm trạng mang màu sắc phương Đông, tiếp nối mạch dòng ngàn đời trong thơ ca cổ điển. Tuy nhiên bài thơ vẫn mang những nét hiện đại, nhà thơ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, mất mối liên hệ với vũ trụ, mất sự giao cảm với cuộc đời, con người và ngập tràn niềm khao khát đồng cảm để vơi bớt cô đơn. Đó cũng là tâm trạng chung của cái tôi lãng mạn trong thơ mới.

3. Kết bài

  • Nêu cảm nghĩ của bản thân.

Bài thơ khép lại với hình ảnh cái tôi cô đơn đối diện với khung cảnh vô tình, dợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm áp.

Vân Anh Wikihoc.com

Xem thêm các bài về Tràng giang khác

Lớp dàn ý văn lớp 11