Dàn ý phân tích "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" lớp 11 chi tiết đầy đủ

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ đã bảo vệ đất nước lịch sử và nền văn học Việt Nam đã chứng kiến sự hi sinh anh dũng của biết bao những tấm gương chiến đấu anh hùng. Nhưng có lẽ tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng bao thế hệ bạn đọc là bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu. Hãy cùng wikihoc.com tìm hiểu về sức hấp dẫn của tác phẩm nhé

Các bài viết về chủ đề Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được quan tâm trên Wikihoc:

Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một cây bút lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam mà còn là một nhà nho yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc. Cuộc đời ông phải trải qua nhiều bi kịch đau khổ và bất hạnh, có lẽ vì vậy mà hơn ai hết ông càng cảm nhận được nỗi đau mất nước khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta. Năm 1859 giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé chiếm thành Gia Định, ông phải vào quê vợ ở Thanh Ba, Cần Giuộc lánh tạm. Về phía thực dân Pháp sau khi chiếm được thành Gia Định chúng bắt đầu thực hiện quá trình mớ rộng cuộc tấn công ra các vùng lân cận. Cần Giuộc chẳng mấy chốc đã bị giặc Pháp tràn đến. Những người nông dân áo vải, chân lấm, tay bùn đã đứng dậy đấu tranh. Họ gia nhập nghĩa binh, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Trong số họ nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt. Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên niềm cảm kích lớn trong nhân dân. Trước sự cống hiến to lớn đó Nguyễn Đình Chiểu bằng tất cả sự cảm kích và xót thương vô hạn của mình đã viết bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Tác phẩm này là một thể loại khá mới mẻ trong chương trình học của ngữ văn lớp 11. Bởi vậy dưới đây wikihoc.com xin mang đến cho các em học sinh một dàn ý chi tiết đầy đủ phân tích tác phẩm này để các em có thể tham khảo trong quá trình học tập. Chúc các em thành công!


DÀN Ý CHI TIẾT ĐẦY ĐỦ HƯỚNG DẪN BÀI VĂN PHÂN TÍCH VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC LỚP 11


I.Mở bài:

  • Giới thiệu tác giả tác phẩm

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một đỉnh cao trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm là nơi kết tinh sâu sắc nhất và tiêu biểu nhất cho tư tưởng của tác giả. gửi tấm lòng k và không phục vô cùng Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên một bức tượng đài vĩ đại về người chiến sĩ nông dân trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm dù đầy đau thương mất mát song lại vô cùng anh dũng hào hùng của dân tộc.
II. Thân bài:
1. Phần lung khởi:

  • "Hỡi ôi": câu cảm thán mở đầu thể hiện niềm thương tiếc chân thành xen lẫn sự bàng hoàng đau xót
  • Súng giặc đất rền: Trời đất quay cuồng, khi tiếng súng của quân giặc phát lên không gian trời đất cũng xáo động, lung lay khiếp sợ
  • Thể hiện sự tàn phá kinh hoàng, nặng nề của quân giặc với những loại vũ khí tối tân, thể hiện sự tàn bạo vô nhân tính của chủ nghĩa thực dân
  • Lòng dân trời tỏ: người dân Việt Nam đứng lên bảo vệ quê hương đất nước tấm lòng yêu nước được trời đất chứng giám, cuộc chiến đấu của nhân dân ta là cuộc chiến đấu vì chính nghĩa được đất trời ủng hộ -> dù hi sinh nhưng cuộc chiến đấu oanh liệt đã tấm lòng của những người nghĩa sĩ đều trở nên bất tử
  • Đoạn văn đã khái quát bối cảnh và tinh thần thời đại đồng thời khẳng định sự bất tử của người nông dân nghĩa sĩ

2. Phân thích thực
a. Nguồn gốc xuất thân của người nghĩa sĩ:

  • Họ đều xuất thân từ những người nông dân nghèo khổ, từ dân ấp, dân lân,...phải chịu biết bao áp bức của thực dân và phong kiến
  • "Cui cút làm ăn": hoàn cảnh sống cô đơn không ai nương tựa lam lũ vất vả nhưng chăm chỉ cần cù
  • Họ là những con người chất phác, hiền lành cả đời nghĩ đến ruộng vườn với những việc thường nhật, họ hoàn toàn xa lạ với việc binh đao chiến trận
  • Nghệ thuật tương phản "vốn quen" - "chưa biết",  "chưa quen" - "chỉ biết" để nhấn mạnh tạo ra sự đối lập về tầm vóc của người anh hùng

b. Lòng yêu nước nồng nàn:

  • Khi thực dân Pháp xâm lược người nông dân từ chỗ lo sợ trông chờ tin quan đến căm thù giặc và rồi bản thân tự vùng lên chống lại -> sự chuyển hóa phi thường trong thái độ của người nông dân
  • Khi đất nước bị xâm lăng, tinh thần tự nguyện của nhân dân được nâng cao, họ tự nguyện dấn thân không ai ép buộc. Ở họ ta không nhận thấy hình dáng bi thảm bị ép buộc mà họ vào trận bằng tinh thần tự nguyện, lựa chọn cao cả dựa trên truyền thống dân tộc
  • Đối với giặc ngoại xâm căm ghét căm thù đến tột độ
  • Đối với tổ quốc họ không dung tha những kẻ lừa dối bịp bợm

c. Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nghĩa sĩ

  • Vốn không phải lính diễn binh, chỉ là đân ấp dân lân mà “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”, tinh thần chiến đấu sẵn sàng tự nguyện vì chính nghĩa mà sẵn sàng hi sinh
  • Hào hùng dũng cảm, "coi giặc cũng như không".
  • Quân trang rất thô sơ: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi,...
  • Một bên là vũ khí tối tân của nền khoa học quân sự , một bên là vật dụng hàng ngày làm vũ khí. Tất cả những miêu tả làm nổi bật lên sự chêch lệch của trận chiến, điều kiện chiến đấu và tinh thần đấu tranh dũng mãnh coi giặc như không liều mình như chẳng có , làm kẻ thù thất điền bát đảo
  • Lập được những chiến công đáng tự hào: “ đốt xong nhà dạy đạo”, “ chém rớt đầu quan hai nọ”
  • "Đạp rào”, “xô cửa”, “liều mình”, “đâm ngang”, “chém ngược”…: động từ mạnh chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi, tạo khí thế hoành tráng. Đặc biệt câu 13,14,15 câu văn ngắn nhịp ngắn, kết cấu mạnh tiết tấu nhanh, tạo dựng không khí dồn dập, khí thế áp đảo kẻ thù, tinh thần tự nguyện đã nâng tầm họ lên, làm cánh tay thêm mạnh, ý chí thêm cao. 
  • Đoạn văn đã dựng lên tượng đài người nghĩa sĩ Cần Giuộc vươn lên từ khó khăn, vượt qua khó khăn với sức mạnh phi thường, tinh thần quả cảm, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh bảo vệ dân tộc quê hương
  • Thể hiện sự tự hào trân trọng ngợi ca của tác giả đối với những người chiến sĩ chân chất, dũng cảm

3. Phần Ai vãn

  • Sự hi sinh của người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện một cách hình ảnh cùng với niềm tiếc thương chân thành
  • Hình ảnh gia đình: tang tóc, cô đơn, chia lìa,... gợi không khí đau thương, buồn bã sau cuộc chiến.
  • Tiếng khóc vang lên, bao nhiều tiếng khóc hòa trong nỗi đau. Con người cỏ cây sông núi đều khóc, khóc vì sự nghiệp của họ, khóc vì một nỗi những người dân chân lấm tay bùn đáng nhẽ phải được bảo vệ thì lại lâm nạn
  • Tiếng khóc ấy không bớt đau thương hòa trọn vào nhau vừa thống thiết lại vừa bi tráng nức nở xót xa thấm đấy nước mắt trước thảm cảnh những gia đình mất đi người thân trong chiến trận. 
  • Bên cạnh đó là tiếng căm hờn, chửi thẳng lũ thực dân Pháp tàn ác, oán giận triều đình vô trách nhiệm, lo lắng xót xa cho những người ở lại.

4. Phần kết

  • Tác giả khẳng định: “Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ", "Danh tiếng nghìn năm còn lưu mãi"
  • Dù đã anh dũng hy sinh nhưng tinh thần quả cảm, tinh thần yêu nước nồng nàn và sức mạnh của người nông dân nghĩa sĩ đã trở thành một tượng đài bất tử vang danh muôn đời
  • Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế.
  • Dù là tiếc thương nhưng lại vô cùng bi tráng chứ không bi lụy, sự hi sinh là sự hi sinh cao cả càng tô đậm vẻ đẹp của người nghĩa sĩ

III. Kết bài:

  • Khẳng định giá trị của tác phẩm

Bài văn tế đã khắc họa lại tượng đài của người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong cuộc chiến đấu để anh dũng hào hùng của dân tộc ta. Họ chiến đấu không phải để lưu danh sử sách mà vì hòa bình. Họ vào cuộc chiến với thái độ hiên ngang, lựa chọn lẽ sống cao cả trở thành một đạo lí tốt đẹp cho dân tộc ta. Qua đó ta thấy được sự thấu hiểu tấm lòng trân trọng ngợi ca thương tiếc của Đồ Chiểu dành cho những người anh hùng áo vải vĩ đại. tác phẩm sẽ mãi là một khúc ca bi tráng anh hùng mãi giữ vững giá trị không chỉ trong nền văn học Việt Nam mà còn trên dòng chảy lịch sử dân tộc.
Hằng Lê - wikihoc.com

Xem thêm các bài về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc khác

Lớp dàn ý văn lớp 11