Dàn ý bài viết số 3 đề 2 lớp 11: "Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ lại có điểm khác nhau" chi tiết đầy đủ

Nhắc đến những cây bút trào phúng bậc thầy của văn học trung đại không thể bỏ qua cái tên Nguyễn Khuyến và Tú Xương. "Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ lại có điểm khác nhau". Sau đây là dàn ý chi tiết, ngắn gọn hướng dẫn các bạn chứng minh ý kiến trên qua hai tác phẩm “Tiến sĩ giấy” (Nguyễn Khuyến) và “Vịnh khoa thi Hương” (Tú Xương)

Các bài viết liên quan tới chủ đề bài viết số 3 đề 2 lớp 11 đáng chú ý:

Người ta thường dùng sự ngợi ca và thương xót dành cho cái đẹp và số phận cái đẹp trong cuộc sống còn tiếng cười để đả kích và chôn vùi tất cả những gì xấu xa, thấp hèn xuống dưới địa ngục. Vì thế, trong những năm tháng “trời đất nổi cơn gió bụi” thế kỉ XIX, cùng với những bài văn chiêu hồn, văn tế, … thơ văn trào phúng cũng thể hiện được vai trò và vị trí của mình. Tiêu biểu của thể loại này chính là như thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Hai người tuy có những nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ lại có điểm khác nhau. Ta cần làm rõ ý kiến trên qua hai tác phẩm đã được học trong chương trình là “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến và “Vịnh khoa thi Hương” của Tú Xương. Khi làm bài, chú ý đến những tiêu chí để chỉ ra sự giống nhau trong tâm sự và khác nhau trong giọng thơ. Sau đó, các bạn nên giải thích nguyên nhân và ý nghĩa của sự giống và khác nhau ấy. Nếu vẫn còn băn khoăn với bài văn, các bạn có thể tham khảo dàn ý phân tích chi tiết, ngắn gọn dưới đây. Chúc các bạn học tập tốt!

DÀN Ý CHI TIẾT CHỨNG MINH NHẬN ĐINH: “NGUYỄN KHUYẾN VÀ TÚ XƯƠNG CÓ NHỮNG NỖI NIỀM TÂM SỰ GIỐNG NHAU NHƯNG GIỌNG THƠ LẠI CÓ ĐIỂM KHÁC NHAU”

I.Mở bài

  • Dẫn dắt, giới thiệu các tác giả, tác phẩm và nhận định

Puskin có lần viết:

“Cười là tiếng khóc khô không lệ

Người ta cười trong lúc quá chua cay”

Ta có thể thấy được nỗi ưu phiền của những nhà Nho ưu thời mẫn thế trong trang viết của Nguyễn Khuyễn và Tú Xương. Tuy có những nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ lại có điểm khác nhau. “Tiến sĩ giấy” và “Vịnh khoa thi Hương” đã thể hiện được phần nào những điều ấy.

II. Thân bài

1) Khái quát

  • Giới thiệu hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm thế kỉ XIX
  • Hoàn cảnh sáng tác của hai bài thơ

2) Chứng minh

a) Nguyễn Khuyến và Tú Xương có những nỗi niềm tâm sự giống nhau

  • Cả hai đều thể hiện nỗi niềm đau đớn, xót xa, nỗi ưu tư trước một xã hội Tây Tàu nhố nhăng, khi các giá trị bị đảo lộn, trước thực trạng của đất nước lúc bấy giờ.
  • Ở đó, ta đều thấy những tấm lòng tận tâm với dân nước, một niềm khao khát thay đổi để tiến bộ.

b) Nhưng giọng thơ mỗi người lại khác nhau

b1) Nguyễn Khuyến: tiếng thơ thâm trầm, kín đáo, nhẹ nhàng mà không kém phần sâu cay

  • Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một bài vịnh vật- ẩn dụ để châm biếm, tự trào- cách thể hiện thâm trầm, kín đáo, nhẹ nhàng
  • Hai câu đầu: từ “cũng”: so sánh, đối chiếu + “ông nghè” gợi liên tưởng về thật- giả hay là một cách để tự giễu bản thân: là tiến sĩ cũng chẳng khác một thứ đồ chơi làm bằng giấy
  • Hai câu thực: những hình ảnh tuông phản về giá trị được đặt cạnh nhau trong quan hệ nhân quả: “mảnh giấy” >< “thân giáp bảng”, “nét son” >< “mặt văn khôi”. Thì ra, nhờ những thứ xoàng xĩnh lại làm nên thên giáp bảng, mặt văn khôi cao quý như thế. Câu thơ như lời tự giễu chua chát: “sách vở ích gì cho buổi ấy”, bằng cấp sắc phong chưa chắc đã hữu dụng cho đời
  • Hai câu luận: “Xiêm áo” là trang phục của người quyền quý thời xưa mà lại do người thợ thủ công làm ra, rất “nhẹ”. Chữ “nhẹ” nghe sao mà rẻ mạc, không có giá trị. Vậy nên, cái giá khoa danh mới thật “hời”. Câu thơ trào lộng, mỉa mai vào danh hiệu tiến sĩ trong thời kì mai một của nền Nho học, khi những người làm chức lớn, quan trên cũng chẳng giúp gì được dân, được nước.
  • Hai câu kết: nhận thức bản thân đối tượng: con người đạt tới đỉnh cao danh vọng nhưng ý thức đầy đủ về bản thân mình: như thứ đồ chơi rẻ tiền, vô nghĩa. Câu thơ đầy ý vị tự trào, xót xa.
  • Cách thể hiện: cách sử dụng từ lấp lửng, hình tượng đa nghĩa tạo nên sự hàm ẩn, đa nghĩa của lời thơ, biến hóa giọng điệu thơ

b2) Tú Xương: tiếng thơ đáo để, sắc nhọn, “như tiếng cười gằn của thủy tinh vỡ”

  • Tiếng cười trong “Vịnh khoa thi Hương” là tiếng cười trực tiếp

Hai câu đầu: giới thiệu sự kiện thi cử và tổ chức trường thi

  • Hai chữ “nhà nước” đặt lên đầu, báo hiệu sự thoái vị của triều đình phong kiến –sự ngậm ngùi, chua xót.
  • Từ “lẫn” ý vị mỉa mai, gợi cái gì đó ô hợp, nhốn nháo, lẫn lộn, phần nào gợi sự mất tôn nghiêm khi tổ chức thi.
  • Hai câu thuần túy giới thiệu sự kiện nhưng trong đó đã phản ánh hiện thực mất chủ quyền. Giọng thơ có vẻ bình thản, khách quan nhưng vẫn thấy chút gì mỉa mai, chua chát

Bốn câu tiếp: bức tranh toàn cảnh trường thi

  • Sĩ tử: Trong ấn tượng xưa nay, sĩ tử quan trường thường gắn với bút nghiêng, lều chòng, đại diện cho đất nước, cho tương lai. Thế nhưng ở đây,  sĩ tử hiện lên thật nhếch nhác, thảm hại: “lôi thôi”- họ bước vào không gian cửa khẩu sân trình như bước vào chốn tụ họp đông người, nhốn nháo
  • Quan trường: xưa nay gắn với loa để thông báo- hình ảnh nghiêm trang mực thước với bước đi đấy quyền lực, lời nói đầy quyền uy. Giờ đây, trường thi nhốn nháo quá, quan nói chẳng ai nghe nên “miệng thét loa” + “ậm ọe” lời mất, lời còn , Khung cảnh càng thêm nhốn nháo, thêm bi hài.
  • Sự nhốn nháo, ô hợp càng lộ rõ hơn: “lọng” che đầu quan ta lại che cho quan Tây, không khí long trọng nhất lại để đón kẻ xâm lược. Trường thi vốn nơi tôn nghiêm, kị đàn bà lại trang trọng đón sự xuất hiện vợ quan Tây, nơi ngang nhiên lê váy
  • Bốn câu thơ: người Tây có, người ta có, đàn ông có, đàn bà có, lọng- váy, sang trọng- tầm thường, hiện đại- quê kệch trong cùng một khung hình. Qua nghệ thuật đối, tiếng cười bất ngời bật ra, cay động, chua chát. Và cay nhất, sắc nhất là khi Tú Xương lấy váy che thân mụ đầm đối với lọng che đầu quan sứ, như trong một bài thơ ông viết:
  • “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
  • Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng”
  • (Giễu người thi đỗ”)

Hai câu kết:

  • Giọng châm biếm, đả kích, cay độc nhường chỗ cho giọng xót xa, trữ tình
  • Lời nhắn nhủ lay tỉnh lương tâm, lương tri con người, hướng tưới nhân tài đất Bắc: sĩ phu, sĩ tử, trí thức hãy “ngoành cổ mà trông cảnh nước nhà”
  • Mở đầu là “nhà nước”, kết thúc là “nước nhà”- đảo ngữ đầy ý nghĩa: “nhà nước” bảo hộ và “nước nhà”- đất nước, nơi gửi gắm những tình yêu chung thủy, nỗi xót xa.

3. Lý giải sự giống nhau và khác nhau

a) Giống nhau

  • Cùng sống trong một giai đoạn xã hội, chứng kiến sự mục nát của chế độ phong kiến
  • Là những con người yêu nước, thương dân, lo nghĩ cho vận mệnh dân tộc

b) Khác nhau

  • Hoàn cảnh cá nhân

Nguyễn Khuyến là một nhà Nho truyền thống, làm việc cho triều đình, theo những quy chuẩn mẫu mực của hệ phong kiến à tiếng cười thâm sâu

Tú Xương: mang theo nỗi bất đắc chí với đời (thi nhiều lần không được) à sự chán ghét, chua chát

  • Cá tính sáng tạo mỗi nhà thơ

4. Ý nghĩa sự giống, khác nhau

  • Giống: đều vạch trần thực trạng xã hội, phê phán giai cấp thống trị và thể hiện tấm lòng của những con người tận tâm với nước
  • Khác: làm phong phú cho văn học, góp vào những giọng điệu mới, màu sắc mới.

III. Kết bài

  • Khẳng định sự đúng đắn của nhận định

Hương Đoàn- Wikihoc.com

Xem thêm các bài về bài viết số 3 đề 2 lớp 11 khác

Lớp dàn ý văn lớp 11